VIETCAPLINK_BẢN TIN THỊ TRƯỜNG NGÀY 01.08.2022
01 Mon

VIETCAPLINK_BẢN TIN THỊ TRƯỜNG NGÀY 01.08.2022

I. TÓM LƯỢC THỊ TRƯỜNG

DIỄN BIẾN CHÍNH

  • Kết thúc phiên giao dịch ngày 29/07/2022, chỉ số VNINDEX giảm 0,15% đóng cửa ở mức 1.206,33 điểm. Giá trị giao dịch trên sàn HOSE đạt 15.018 tỷ đồng, giá trị giao dịch toàn thị trường tính cả 3 sàn đạt 17.066,4 tỷ đồng, giảm 6,9% so với phiên liền trước nhưng tăng 35% so với trung bình 5 phiên và tăng 32% so với trung bình 20 phiên trước.

  • Xu hướng dòng tiền: Tỉ trọng phân bổ dòng tiền tăng vào nhóm Hóa chất, Hàng và dịch vụ công nghiệp, Hàng cá nhân và gia dụng, giảm vào nhóm Bất động sản, Ngân hàng, Xây dựng và vật liệu.

  • Nhóm Hàng cá nhân và gia dụng: Hồi phục

  • Dòng tiền vào nhóm cổ phiếu Hàng cá nhân và gia dụng tăng 0,82% với thanh khoản tăng mạnh 114% so với trung bình 5 phiên trước đó. Tỉ trọng giá trị giao dịch của ngành so với toàn thị trường tăng lên 2,55%, cao nhất trong 10 phiên liên tiếp.

  • Dòng tiền tập trung vào các cổ phiếu PNJ, TNG, TCM, GIL, VGT, AAT, ADS, DQC, EVE, DCS, không có cổ phiếu nào giảm điểm.  

  • Nhóm cổ phiếu tăng điểm đáng chú ý: Ngân hàng

  • Nhóm cổ phiếu Ngân hàng tiếp tục tăng 0,18%, giá trị giao dịch tăng mạnh 39% so với trung bình 5 phiên tuy nhiên tỉ trọng giá trị giao dịch so với toàn thị trường giảm xuống 16,4%.

  • Các cổ phiếu có giá trị giao dịch cao gồm STB, VPB, TCB, MBB, VIB, SHB, BID, CTG, LPB, ACB trong đó 7/10 mã tăng điểm. Điểm đáng chú ý là nhóm Ngân hàng tiếp tục phân hóa, có 15/27 mã tăng điểm.

  • Chỉ số dòng tiền tích lũy vào cổ phiếu Ngân hàng mới thoát đáy 1 năm ngày 27/7 và tăng mạnh mẽ 3 phiên liên tiếp, hỗ trợ cho chỉ số giá tăng điểm.

QUAN ĐIỂM KỸ THUẬT

  • Tín hiệu kỹ thuật ngắn hạn và trung hạn của các chỉ số không có sự thay đổi so với phiên trước đó. Cụ thể, tín hiệu ngắn hạn duy trì ở mức Tích cực tại tất cả các chỉ số trong khi VNMidcap là chỉ số đầu tiên có sự cải thiện tín hiệu trung hạn lên Trung tính.

  • Dự báo trong phiên giao dịch ngày 01/08/2022, thị trường có thể có quán tính giảm trong phiên sáng để các chỉ số kiểm định các hỗ trợ gần nhất. Đối với VN-Index, chỉ số này sẽ kiểm định lực mua giá thấp tại vùng 1200-1205 điểm; đây là ngưỡng hỗ trợ mà nếu bị phá vỡ, đà hồi phục hiện tại của thị trường sẽ bị thách thức.

  • Ngược lại, nếu lực bán ra không mạnh và được hấp thụ tốt bởi lực cầu, giúp VNIndex duy trì đóng cửa trên mốc 1205 điểm, chỉ số sẽ có cơ hội kiểm định lại kháng cự mạnh MA50 tại 1218 điểm. Vượt qua mốc 1218 điểm, kháng cự tiếp theo sẽ là vùng 1240 điểm trong khi kháng cự mạnh hơn sẽ là đường MA100 tại vùng 1290-1300 điểm.

Quán Trend thị trường

  • Thị trường thế giới và Việt Nam phản ứng tốt sau khi tin Fed công bố lãi suất cụ thể là DJ tạo đáy 29 744 lên 32 846 phiên cuối tuần.

  • VN-Index 2 phiên tích cực giúp chỉ số vượt 1200.

  • Cuối tuần qua thêm hàng loạt cổ phiếu công bố KQKD tăng gồm: HDB, GMD, TLG, HDG... trước đó là GAS, NLG, HAX, VGC, VCB, VNS... chúng ta cần đọc và tìm kiếm cơ hội trong nhóm này.

  • Liên quan giá nguyên vật liệu giảm Vietcaplink khuyến nghị anh chị tìm kiếm nhóm cổ phiếu có giá đầu vào giảm như xây dựng, vận tải... để phân tích theo dõi cổ phiếu đầu chu kỳ.

Hành động: Vietcaplink duy trì nhận định chiến lược đầu tư xuyên suốt cho giai đoạn này

  • Chủ động cơ cấu danh mục

  • Bán cổ phiếu không thoả mãn, đảo sang danh mục cổ phiếu ưu tiên trong top KQKD

  • Giữ tỷ trọng vừa đủ, không mua đuổi, không mua lan man

II. DOANH NGHIỆP

Ngành Thiết bị điện và điện tử

  • GEX: Đạt 1,485 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong 6 tháng, thực hiện 57% kế hoạch năm 2022

Ngành Bán lẻ

  • DGW: LNST của cổ đông công ty mẹ quý II đạt 137 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước

  • MWG: LNST quý II đạt 2.576 tỷ đồng, gần như đi ngang và thực hiện 41% kế hoạch năm

  • MSN: The CrownX ghi nhận kết quả tích cực, Masan báo lãi ròng 6 tháng gấp 2.6 lần cùng kỳ khi đạt 2,577 tỷ đồng

Ngành Bất động sản

  • PDR: Bán Astral City, thu về 3.350 tỷ đồng, ghi nhận trong nửa cuối năm nay

  • KDH: Ngày 1/8 tới đây gần 74 triệu cổ phiếu được niêm yết bổ sung

  • VIC: Quý II, lợi nhuận sau thuế đạt 515 tỷ đồng, giảm 14% so với cùng kỳ năm trước

  • LGL: "Trùm" nợ thuế  và tham vọng với các dự án Rivera

Ngành Chứng khoán

  • MBS: Phó TGĐ đăng ký bán 414.084 CP

Ngành Dầu khí

  • GAS: Giá dầu tăng cao, PV Gas lãi kỷ lục hơn 5.000 tỷ đồng quý II

  • OIL: Lãi kỷ lục 403 tỷ đồng trong quý II, khoản phải thu và hàng tồn kho tăng mạnh

Ngành Điện

  • REE: Quý II/2022, lợi nhuận tăng 60,7% lên 755,28 tỷ đồng

Ngành Hàng gia dụng

  • DQC: Qúy II ghi nhận lãi ròng giảm 92% so với cùng kỳ năm trước, còn vỏn vẹn gần 220 triệu đồng

Ngành Ngân hàng

  • MBB: Quý II/2022 lợi nhuận trước thuế đạt xấp xỉ 6.000 tỷ đồng, tăng 75,7% so với cùng kỳ

Ngành Nông nghiệp và Xây dựng

  • DBC: Giá thức ăn chăn nuôi tăng, Công ty báo lãi quý 2 sụt giảm 93% so với cùng kỳ, vỏn vẹn 14 tỷ đồng

  • PAN: LNST quý II đạt gần 228 tỷ, lần lượt tăng 107% so với cùng kỳ 2021

Ngành Xây dựng

  • CII: 6 tháng đầu năm thoát lỗ nhờ chuyển nhượng các khoản đầu tư tài chính và thoái vốn công ty con

  • DC4: Mang tiền đầu tư cổ phiếu dẫn tới lỗ 3,65 tỷ đồng trong quý II/2022

III. BẢN TIN DOANH NGHIỆP

ACV: Lợi nhuận khả quan trong quý 2/2022– Báo cáo KQKD

  • Tổng Công ty Cảng Hàng không Việt Nam (ACV) công bố KQKD quý 2/2022 với doanh thu tăng 124% YoY lên 3,4 nghìn tỷ đồng và LNST sau lợi ích CĐTS tăng 667% YoY đạt 2,6 nghìn tỷ đồng.

  • Loại trừ đóng góp từ tài sản kết cấu hạ tầng hàng không do Nhà nước đầu tư (như đường băng), doanh thu của ACV tăng 144% YoY lên 2,9 nghìn tỷ đồng và LNST sau lợi ích CĐTS tăng 863% YoY lên 2,4 nghìn tỷ đồng trong quý 2/2022.

  • Trong 6 tháng đầu năm 2022, doanh thu của ACV tăng 60% YoY lên 4,6 nghìn tỷ đồng và LNST sau lợi ích CĐTS tăng 231% YoY lên 3,1 nghìn tỷ đồng, chủ yếu nhờ sự phục hồi của ngành hàng không khi dịch COVID-19 giảm dần.

MBB: Tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ nhờ cải thiện NIM và giảm chi phí dự phòng – Báo cáo KQKD

  • Ngân hàng TMCP Quân đội (MBB) đã công bố KQKD hợp nhất cho 6 tháng đầu năm 2022 với LNTT đạt 11,9 nghìn tỷ đồng (+49% YoY), nhờ vào (1) thu nhập từ lãi (NII) tăng 38,7% YoY, (2) chi phí dự phòng giảm 17,5% YoY và (3) lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối tăng trưởng mạnh 68,1% YoY. Điều này tương ứng LNTT quý 2/2022 đạt 6,0 nghìn tỷ đồng (tăng 1,3% so với quý 1/2022).

  • Tăng trưởng tín dụng hợp nhất 6 tháng đầu năm 2022 đạt 14,6%, trong đó (1) tăng trưởng tín dụng 14,3% và (2) tăng trưởng số dư trái phiếu doanh nghiệp 17,3%.

  • Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2022 của ngân hàng mẹ đạt 14,5% so với hạn mức tín dụng ban đầu là 15%. Tương tự với VPB và TCB, số dư trái phiếu doanh nghiệp tại ngân hàng mẹ của MBB cũng giảm 1,3% QoQ - mặc dù mức giảm này ít hơn đáng kể so với TCB và VPB. Trong khi đó, MBB đã tăng tỷ lệ đóng góp của cho vay bán lẻ lên 48,51% trong quý 2/2022 so với 45,98% trong quý 4/2021, điều này đã hỗ trợ NIM.

  • Tăng trưởng tiền gửi 6 tháng đầu năm 2022 là 3,2% và tỷ lệ CASA là 45,5% so với 48,7% vào đầu năm 2021.

  • Tỷ lệ CIR hợp nhất 6 tháng đầu năm 2022 tăng 0,1 điểm % YoY lên 32,63% chủ yếu do OPEX tăng 26,6% YoY nhờ chi phí nhân viên tăng 32,8% YoY.

  • Tỷ lệ xử lý nợ hợp trong 6 tháng đầu năm 2022 cho các khoản vay gộp giảm xuống còn 0,53% so với 0,97% trong năm 2021.

BID: Tỷ lệ nợ xấu & chi phí dự phòng giảm mạnh; Mảng giao dịch ngoại hối tích cực – Báo cáo KQKD

  • Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID) công bố KQKD 6 tháng đầu năm 2022 với tổng thu nhập từ HĐKD (TOI) đạt 34,4 nghìn tỷ đồng (+7,8% YoY) và LNST sau lợi ích CĐTS đạt 8,8 nghìn tỷ đồng (+39,3% YoY).

  • Lợi nhuận tăng chủ yếu là do (1) thu nhập từ lãi (NII) tăng 15,5% YoY, (2) lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối tăng 54,1% YoY và (3) chi phí dự phòng giảm 12,2% YoY, bị ảnh hưởng một phần bởi thu nhập phí ròng (NFI) giảm 12,5% YoY và chi phí HĐKD (OPEX) tăng 16,8% YoY. So với quý trước (QoQ), LNST sau lợi ích CĐTS quý 2/2022 đạt 5,2 nghìn tỷ đồng (+46,1% QoQ và +42,6% YoY).

  • Tăng trưởng tín dụng quý 2/2022 tương đương với quý 1/2022; Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2022 gần chạm hạn mức tín dụng được cấp ban đầu.

  • Tương tự như CTG, BID cũng báo cáo NIM quý 2/2022 tăng QoQ.

  • Thu nhập ngoài lãi (NOII) 6 tháng đầu năm 2022 thấp với lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại hối là động lực tăng trưởng chính.

  • Chi phí dự phòng 6 tháng đầu năm 2022 giảm 12,2% YoY; tỷ lệ bao phủ nợ (LLR) vẫn ở mức cao.

  • Chất lượng tín dụng vẫn được duy trì.

CII: Lợi nhuận quý 2 dẫn bắt bởi mảng BĐS có biên LN cao - Báo cáo KQKD

  • CTCP Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (CII) công bố KQKD quý 2/2022 với doanh thu thuần giảm 5,3% YoY đạt 948 tỷ đồng trong khi LNST sau lợi ích CĐTS tăng 170% YoY đạt 74 tỷ đồng so với chỉ 27 tỷ đồng trong quý 2/2021.

  • Trong 6 tháng đầu năm 2022, doanh thu giảm 16% YoY đạt 1,7 nghìn tỷ đồng trong khi LNST sau lợi ích CĐTS tăng 22,7 lần YoY đạt 721 tỷ đồng. Lợi nhuận được đóng góp chủ yếu từ khoản lãi thoái vốn khỏi CTCP Đầu tư 577 (HOSE: NBB) trị giá 776 tỷ đồng trong quý 1/2022.

CTG: NIM tăng QoQ nhưng vẫn chịu ảnh hưởng từ các gói hỗ trợ lãi suất - Báo cáo KQKD

  • Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (CTG) công bố KQKD 6 tháng đầu năm 2022 với tổng thu nhập từ HĐKD (TOI) đạt 30,0 nghìn tỷ đồng (+11,1% YoY) và LNST sau lợi ích CĐTS là 9,3 nghìn tỷ đồng (+6,9% YoY).

  • Lợi nhuận tăng chủ yếu là do (1) thu nhập từ lãi (NII) tăng 2,8% YoY, (2) thu nhập phí ròng (NFI) tăng 7,5% YoY, (3) lãi từ giao dịch ngoại hối tăng 86,5% YoY và (4) thu nhập ròng khác tăng 1,9 lần YoY, bị ảnh hưởng một phần bởi chi phí dự phòng tăng 21,9% YoY. Trên cơ sở hàng quý, LNST sau lợi ích CĐTS quý 2/2022 đạt 4,6 nghìn tỷ đồng (-0,4% QoQ và +106,4% YoY so với mức cơ sở thấp trong quý 2/2021).

  • Tăng trưởng tín dụng quý 2/2022 hạn chế do hạn mức tín dụng ban đầu nghiêm ngặt.

  • NIM tăng theo cơ sở QoQ. NOI 6 tháng đầu năm 2022 đạt mức tăng trưởng ổn định 43,9% YoY nhờ lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng như thu nhập ròng khác cao hơn.

  • Chi phí dự phòng 6 tháng đầu năm 2022 tăng 21,9% YoY do cơ sở trích lập dự phòng thấp trong quý 1/2021; chi phí dự phòng quý 2/2022 giảm 17,2% YoY.

  • Chất lượng tài sản giảm nhẹ trong quý 2/2022. 

GAS: Lợi nhuận quý 2 cao kỷ lục nhờ giá khí tăng mạnh – Báo cáo KQKD

  • Tổng CT Khí Việt Nam (GAS) công bố KQKD tăng trưởng mạnh trong 6 tháng đầu năm 2022 với doanh thu đạt 54 nghìn tỷ đồng (+34,9% YoY) và lợi nhuận ròng đạt 8,5 nghìn tỷ đồng (+98,4%YoY) được hỗ trợ bởi giá khí đầu ra tăng mạnh. Giá dầu nhiên liệu (FO) trung bình - thước đo tiêu chuẩn cho giá khí của Việt Nam - tăng 59,3% YoY trong 6 tháng đầu năm 2022. Ngoài ra, giá LPG trung bình tăng 50,3% YoY trong nửa đầu năm 2022. Tuy nhiên, sản lượng bán 6 tháng đầu năm 2022 không đổi so với cùng kỳ năm trước.

  • Trong quý 2/2022, doanh thu của GAS tăng 21,8% YoY và LNST sau lợi ích CĐTS tăng hơn gấp đôi YoY. Ngoài ra, LNST sau lợi ích CĐTS của GAS tăng 48,4% QoQ trong quý 2/2022 chủ yếu nhờ giá FO tăng.

  • Sản lượng khí thương phẩm 6 tháng đầu năm 2022 không đổi so với cùng kỳ năm trước do sự phục hồi của doanh thu bán khí cho các nhà sản xuất phân bón (+17,6% YoY) và khu công nghiệp (+5,3% YoY) bù đắp cho sự sụt giảm của doanh thu bán khí cho các nhà máy điện (-4,5% YoY).

HDB: Doanh thu cao vượt dự báo– Báo cáo KQKD

  • Ngân hàng TMCP Phát triển TP. HCM (HDB) công bố KQKD hợp nhất 6 tháng đầu năm 2022 với LNST sau lợi ích CĐTS đạt 4,0 nghìn tỷ đồng (+28,3% YoY). LNST hợp nhất 6 tháng đầu năm 2022 tăng chủ yếu do (1) thu nhập từ lãi (NII) tăng 25,8% YoY, (2) thu nhập phí ròng (NFI) tăng 68,4% YoY, (3) lãi từ kinh doanh ngoại hối tăng 54,7% YoY (4) chi phí dự phòng tăng 57,6% YoY và (5) chi phí HĐKD (OPEX) tăng 19,4% YoY. Kết quả này tương ứng LNST sau lợi ích CĐTS quý 2/2022 đạt 2,1 nghìn tỷ đồng (+8,4% so với quý 1/2022).

  • Tăng trưởng tín dụng hợp nhất 6 tháng đầu năm 2022 đạt 14,8%, nhờ vào (1) tăng trưởng cho vay hợp nhất đạt 17,0% và (2) số dư trái phiếu doanh nghiệp giảm 29,0% so với quý 4/2021. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2022 của ngân hàng mẹ là 14,6% so với hạn mức tín dụng ban đầu là 15%.

  • Tăng trưởng cho vay trong 6 tháng đầu năm 2022 của HDS là 17,2% và đạt 15,7 nghìn tỷ đồng với dư nợ vay đóng góp khoảng 6,6% vào cho dư nợ vay hợp nhất.

  • Tỷ lệ xử lý nợ hợp nhất quy năm trong 6 tháng đầu năm 2022 đạt 0,75%.

  • Tỷ lệ chi phí/thu nhập (CIR) 6 tháng đầu năm 2022 giảm 2,4 điểm % YoY còn 37,0% nhờ lợi nhuận tăng trưởng mạnh

HDG: KQKD quý 2/2022 tích cực nhờ bàn giao BĐS – Báo cáo KQKD

  • CTCP Tập đoàn Hà Đô (HDG) công bố KQKD với LNST sau lợi ích CĐTS đạt 362 tỷ đồng, cao hơn khoảng 20 lần so với quý 2/2021 chủ yếu nhờ bàn giao dự án Charm Villas cũng như đóng góp lợi nhuận từ 2 nhà máy thủy điện mới và 1 trang trại điện gió đi vào hoạt động cuối năm 2021. LNST sau lợi ích CĐTS 6 tháng đầu năm 2022 đạt 606 tỷ đồng (+78% YoY).

  • HDG lên kế hoạch mở bán Giai đoạn 3 của dự án Charm Villas trong quý 4/2022. HDG đã bàn giao 45 căn trong quý 2/2022 và đặt mục tiêu bàn giao khoảng 100 căn trong giai đoạn quý 3-quý 4/2022.

  • HDG vẫn duy trì kế hoạch mua thêm quỹ đất mới trong 6 tháng cuối năm 2022. Trước đây, HDG cho biết công ty đang trong quá trình đàm phán để hoàn tất việc mua quỹ đất với diện tích 125 ha ở phía Tây Hà Nội với mức giá sơ bộ khoảng 1 nghìn tỷ đồng.

  • Doanh thu mảng BĐS trong 6 tháng đầu năm 2022 giảm 39% YoY, nhưng lợi nhuận gộp gần như đi ngang YoY do dự án Charm Villas có biên lợi nhuận gộp đạt khoảng 75% so với khoảng 40% của dự án Hado Centosa.

  • Doanh thu và lợi nhuận gộp của mảng năng lượng trong 6 tháng đầu năm 2022 lần lượt tăng 89% YoY và 70% YoY, nhờ vào đóng góp từ 2 nhà máy thủy điện mới (Đắk Mi 2 & Sông Tranh được hưởng lợi từ giá thị trường điện cao và điều kiện thời tiết thuận lợi) và trang trại điện gió 7A. Trong 6 tháng đầu năm 2022, sản lượng điện đạt 600 triệu kWhh – cao hơn gấp đôi YoY

POW: KQKD quý 2/2022 thấp do ảnh hưởng từ nhà máy Vũng Áng & Cà Mau – Báo cáo KQKD

  • Tổng CT Điện lực Dầu khí Việt Nam (POW) công bố KQKD quý 2/2022 với LNST sau lợi ích CĐTS đạt 417 tỷ đồng (-51% YoY). LNST này cũng bao gồm 276 tỷ đồng do Công ty Mua bán điện EVN thanh toán mức lỗ tỷ giá trong năm 2021 (nằm trong mục doanh thu). Do đó, LNST điều chỉnh trong quý 2/2022 là 196 tỷ đồng (-69% YoY). KQKD thấp chủ yếu do sản lượng điện giảm mạnh từ nhà máy Cà Mau (-37% YoY) và nhà máy Vũng Áng (-57% YoY), cũng như điều chỉnh giảm trong sản lượng hợp đồng tại nhà máy Cà Mau do thiếu khí. LNST sau lợi ích CĐTS 6 tháng đầu năm 2022 đạt 1.139 tỷ đồng (-16% YoY).

  • Theo POW, rủi ro thiếu khí của nhà máy Cà Mau đã được giải quyết do công ty đã hoàn tất thỏa thuận mua thêm khí đốt từ Malaysia. Tuy nhiên, giá khí cao của nhà máy Cà Mau có thể ảnh hưởng đến sản lượng điện thương phẩm trong 6 tháng cuối năm 2022. Ngoài ra, POW cũng kỳ vọng nhà máy Vũng Áng sẽ hoạt động tốt hơn trong 6 tháng cuối năm so với 6 tháng đầu năm 2022 do nhà máy đã đảm bảo đủ lượng than cho năm nay và kế hoạch sản lượng điện thương phẩm của nhà máy Vũng Áng là 1,7 tỷ kWh – cao hơn so với 6 tháng đầu năm 2022.

  • Trong quý 2, POW đã ứng trước 2,0 nghìn tỷ đồng cho nhà thầu EPC của nhà máy Nhơn Trạch 3&4. Dự án dự kiến đưa vào vận hành trong quý 4/2024.

HPG: KQKD quý 2/2022 giảm từ mức cơ sở cao trong quý 2/2021 – Báo cáo KQKD

  • CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG) đã công bố KQKD chính thức quý 2/2022, phù hợp với kết quả sơ bộ được công bố vào ngày 26/07 với doanh thu đạt 37,4 nghìn tỷ đồng (+7% YoY và -15% QoQ) và LNST sau lợi ích CĐTS đạt 4,0 nghìn tỷ đồng (-59% YoY và -51% QoQ).

  • Mặc dù doanh số bán hàng khả quan, lợi nhuận quý 2/2022 của HPG bị ảnh hưởng chênh lệch giá đầu vào và đầu ra thu hẹp do 1) giá bán trung bình (ASP) của các sản phẩm thép giảm trong suốt quý 2/2022 và 2) giá đầu vào (than) vẫn ở mức cao.

  • KQKD 6 tháng đầu năm 2022 của HPG bao gồm doanh thu đạt 81,5 nghìn tỷ đồng (+23% YoY) và LNST sau lợi ích CĐTS 12,2 nghìn tỷ đồng (-27% YoY).

HSG: Lợi nhuận giảm so với cùng kỳ năm trước trong quý 2 nhưng biên lợi nhuận gộp cải thiện so với quý trước – Báo cáo KQKD

  • CTCP Tập đoàn Hoa Sen (HSG) báo cáo KQKD quý 3 năm tài chính 2022 (từ ngày 01/04/2022 đến ngày 30/06/2022) với doanh thu đạt 12,2 nghìn tỷ đồng (-6% YoY và -4% QoQ) và LNST sau lợi ích CĐTS đạt 265 tỷ đồng (-84% YoY và +13% QoQ). Dù giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước từ mức cao kỷ lục trong quý 3 năm tài chính 2021, LNST sau lợi ích CĐTS quý 2 năm tài chính 2022 của HSG đã cải thiện so với quý trước nhờ biên lợi nhuận gộp tăng.

  • Biên lợi nhuận gộp của HSG cải thiện đạt 13,1% trong quý 3 năm tài chính 2022 từ mức 11,3% trong quý 2 năm tài chính 2022. Trong quý 2 năm tài chính 2022, giá thép cuộn cán nóng (HRC) và tôn mạ thành phẩm có sự phục hồi ngắn hạn sau đợt điều chỉnh mạnh vào cuối năm 2021.

  • Những biến động giá này tạo cơ hội cho các công ty tôn mạ thu mua HRC đầu vào khi giá được cho rằng ở mức thấp, từ đó giúp giảm bớt áp lực biên lợi nhuận do giá HRC đầu vào cao.

Kính chúc Quý nhà đầu tư ngày giao dịch hiệu quả!

---------------------------------------------------

CÔNG TY CỔ PHẦN VIETCAPLINK
Hotline: 090 412 1661
Website: https://vietcaplink.vn
Email: [email protected]
Địa chỉ: Tầng 8, tòa Thăng Long Tower số 98A Ngụy Như Kon Tum, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội
#vietcaplink #quantrend #bantinchungkhoan #nhandinhthitruong #tomluocthitruong

Đăng bởi Vietcaplink